maugiaomangnon | 18 May, 2010 12:04

    số người đã truy cậpfree hit counter
    free hit counter
    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN

    http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN 

     

     Xã Tam Ngọc là một xã đồng bằng cách trung tâm thành phốTam Kỳ 3 km về hướng tây nam .Theo trục lộ Tam Kỳ Phú Ninh. Diện tích tự nhiên 8,81 km2 .Tổng dân số là 6.046 khẩu.Nhân dân Xã tam Ngọc có truyền thống đấu tranh cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là một xã thuần nông. Từ sau ngày giải phóng đến nay trong quá trình xây dựng và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng đã từng bước xây dựng lại hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất , văn hóa giáo dục , nhằm giải quyết nhu cầu sống cho nhân dân . Trong đó ngành học mầm non xã nhà cũng theo đà phát triển . Trường Mẫu giáo Măng Non được thành lập năm 1987 với tổng số lớp hiện nay là 7 lớp với 165 cháu ; Cán Bộ GV CNV là 11 cô. các lớp được cơ cấu ở từng địa bàn thôn Từ thôn 1 đến thôn 7 mỗi thôn đều có một lớp . Riêng ở cơ sở thôn 4 được được xây dựng lớp điểm gồm có 2 lớp ( 1 lớp nhỡ, và 1 lớp lớn ) Và tổ chức bán trú từ năm 2003 đến nay. Dưới sự lãnh chỉ đạo của ngành Giáo dục và đào tạo TP,nhà trường đã nổ lực phấn đấu liên tục đạt danh hiệu trường Tiên Tiến, nhiều giáo viên đạt CSTĐ cấp cơ sở và 100% là LĐTT.Nhà trường luôn được các cấp ủy Đảng-chính quyền địa phương và nhân dân tin tưởng, ủng hộ.. 

    CBGV MG MĂNG NON


      Nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ thời Ngũ Đế, Tam Vương. Đời Tam Vương, Anh Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, nhằm tháng Dần (con cọp) làm tháng đầu năm, do đó Tết Nguyên Đán vào đầu tháng Dần. Nhà Thượng, thích màu trắng nên chọn tháng Sửu (con trâu) tức tháng chạp làm tháng đầu năm.

    Đến thời nhà Chu ( 1056- 256 trước công nguyên) ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý (con chuột ) tức tháng Mười Một làm tháng Tết. Các vua nói trên, theo ngày giờ lúc mới tạo thiên lập địa: Nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh ra loài người mà đặt ra ngày Tết khác nhau. Đến đời Đông Chu, Khổng phụ Tử ra đời, đổi ngày Tết và một tháng nhất định: tháng Dần.

    Mãi đến đời Tần ( thế kỷ III trước công nguyên), Tần Thuỷ Hoàng lại đổi qua tháng Hợi ( con lợn), tức tháng Mười. Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế ( 140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần ( tức tháng Giêng) từ đời Hạ và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

    Đến đời Đông phương Sóc, ông cho rằng tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ bốn sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế ngày Tết được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy. 

    Trong tiếng Hán, chữ "nguyên" nghĩa là bắt đầu, thứ nhất, chữ "đán" nghĩa là một ngày hoặc buổi sáng. Ghép lại, "nguyên đán" nghĩa là ngày đầu tiên của năm.

     • Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện. Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm. Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm. Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật ,Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm. Xông nhà: Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự "xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dãi.


     

    CHÀO MỪNG KHAI GIẢNG NĂM HỌC MỚI

    2010-2011 

     

     

    Lãnh đạo địa phương phát biểu 

     

    Đón cháu vào trường

     

    Đại biểu tham dự cùng cô trò 

     

     CÔ TRÒ VUI MÚA HÁT MỪNG KHAI GIẢNG

     

    CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN
    NHIỆM KÌ 2010-2012
     

    Photobucket

    CHỦ TỊCH ĐOÀN

    Photobucket

    Photobucket
    BAN CHẤP HÀNH CĐ NHIỆM KỲ 2010-2012
    maugiaomangnon | 18 May, 2010 12:17

     

     

     

    maugiaomangnon | 18 May, 2010 12:42

     

    GIỚI THIỆU TP TAM KỲ

     

     

     Theo sử liệu, Tam Kỳ ngày nay là cùng đất thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của đạo Thừa Tuyên – Quảng Nam, được hình thành từ năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1906, đời vua Thành Thái, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phủ Tam Kỳ.Từ một phủ lỵ năm 1906 đến năm 1997 trở thành Thị xã Tỉnh lỵ và Thành phố Tỉnh lỵ Quảng Nam là thời gian tròn một thế kỷ.Trải qua chiều dài lịch sử, qua nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính và có những tên gọi khác nhau: Phủ Tam Kỳ, huyện Tam Kỳ ( huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và Thị xã Tam Kỳ). Mỗi lần thay đổi tên gọi đơn vị hành chính là có gắng với sự thay đổi, điều chỉnh quy mô về diện tích đất đai. Tam Kỳ là một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, con người Tam Kỳ hiếu học, cần cù, chịu thương, chịu khó và cầu tiến.Thành phố Tam Kỳ được thành lập tại Nghị định số 113 ngày 29/9/2006 của Chính phủ, bao gồm 9 phường, 4 xã của Thị xã Tam Kỳ, diện tích gần 93Km2, dân số gần 12 vạn người. Thành phố Tam Kỳ là một trung tâm hành chính, văn hoá – khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Nam, nằm ở trung độ của cả nước và vùng trọng điểm kinh tế ven biển miền Trung. Thành phố Tam Kỳ ra đời đánh dấu một bước phát triển mới về chất, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của vùng đất và con người Hà Đông xưa, đang mở ra một thời kỳ phát triển mới đầy triển vọng của thành phố tương lai.Trong thời gian đến, thành phố Tam Kỳ tập trung phát huy lợi thế tiềm năng, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp. Phát triển văn hoá – xã hội ngang tầm với vị thế trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của một tỉnh giàu truyền thống văn hoá và đấu tranh cách mạng, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn, phấn đấu xây dựng Thành phố đạt các tiêu chí đô thị loại II, tập trung xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh - quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hộiTam Kỳ là thành phố trung tâm tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam.Tam Kỳ từ một thị xã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006. Hiện nay Tam Kỳ là đô thị loại 3 và phấn đấu trở thành đô thị loại 2 vào năm 2010.Hành chínhThành phố Tam Kỳ có 100.263,56 ha diện tích tự nhiên và 123.662[1] nhân khẩu (9/2006), gồm 13 đơn vị hành chính là: 10 phường (An Mỹ, An Sơn, Hòa Hương, Phước Hòa, An Xuân, An Phú, Trường Xuân, Tân Thạnh, Hòa Thuận,) và 4 xã (Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc).Địa giới hành chính thành phố Tam Kỳ: phía bắc giáp huyện Thăng Bình và huyện Phú Ninh, phía nam giáp huyện Núi Thành, phía tây giáp huyện Phú Ninh, phía đông giáp biển Đông.Thành phố gồm có các đường phố chính như: Hùng Vương, Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hoàng, Phan Bội Châu, Trưng Nữ Vương, Thanh Niên, ...Chủ tịch: Hoàng Xuân ViệtBí thư: Bùi Quốc ĐinhLịch sửTrước kia, từ vị trí một ngã ba, nay trở thành thành phố với nhiều giao lộ lớn. Hạ tầng phố phường đã xây dựng khá nhiều và quy mô, nhất là khu hành chánh, quảng trường, ... Thị xã Tam Kỳ là một đô thị được hình thành từ lâu, có bề dày lịch sử. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, Tam Kỳ luôn có sự phát triển không ngừng, gắn liền với vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống cách mạng kiên cường, bất khuất trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.Sau Cách mạng tháng 8/1945, huyện Tam Kỳ có huyện lỵ là thị trấn Tam Kỳ. Đến ngày 30/01/1951 thị xã Tam Kỳ được thành lập và được chọn là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, dưới chính quyền Sài Gòn, huyện Tam Kỳ được gọi là quận Tam Kỳ và quận Q Tín.Sau giải phóng, ngày 20/11/1976 huyện Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, được lập lại trên cơ sở sát nhập huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ. Đến tháng 12/1983, theo Quyết định số 144 của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Tam Kỳ được chia thành 2 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành. Năm 1997 khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị hành chính, Tam Kỳ trở lại là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam.Đầu năm 2005, thị xã Tam Kỳ được chia tách thành hai đơn vị hành chính là thị xã Tam Kỳ và huyện mới Phú Ninh theo Nghị định số 01/2005/NĐ-CP, ngày 05/01/2005 của Chính phủ.Ngày 29 tháng 9 năm 2006 theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, thị xã Tam Kỳ được nâng cấp lên thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh Quảng Nam 

     

    maugiaomangnon | 18 May, 2010 17:21
    Nghị định 49/2010/NĐ- CP về việc quy định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010- 2011 đến năm học 2014- 2015 Trích: Chương 2. QUY ĐỊNH VỀ MIỄN GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP Điều 3. Đối tượng không phải đóng học phí Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: học sinh tiểu học; học sinh, sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn nghề nghiệp. Điều 4. Đối tượng được miễn học phí 1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005. 2. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. 3. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế. 4. Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng. Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên. 5. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Nhà nước. 6. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân. 7. Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên). 8. Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học. 9. Học sinh, sinh viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo. Điều 5. Đối tượng được giảm học phí 1. Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc và một số chuyên ngành, nghề nặng nhọc, độc hại. 2. Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: a) Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; b) Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo; c) Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề. Điều 6. Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập 1. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. 2. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế. 3. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Nhà nước, không thuộc các xã quy định tại khoản 1 Điều này. Điều 7. Cơ chế miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập 1. Việc miễn, giảm học phí sẽ được thực hiện trong suốt thời gian học tập tại nhà trường, trừ trường hợp có những thay đổi về lý do miễn hoặc giảm học phí. 2. Nhà nước thực hiện cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập có đối tượng được miễn, giảm học phí theo số lượng người học thực tế và mức thu học phí. Cấp bù học phí (theo mức học phí của các trường công lập trong vùng) cho học sinh là con của người có công với nước, các đối tượng chính sách học mẫu giáo và phổ thông ngoài công lập. Cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí cho các đối tượng được miễn, giảm học phí học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập để các đối tượng này đóng học phí đầy đủ cho nhà trường. 3. Nhà nước thực hiện hỗ trợ chi phí học tập trực tiếp cho các đối tượng quy định tại Điều 6 Nghị định này với mức 70.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách, vở và các đồ dùng khác… thời gian được hưởng theo thời gian học thực tế và không quá 9 tháng/năm học. Điều 8. Không thu học phí có thời hạn 1. Khi xẩy ra thiên tai, tùy theo mức độ và phạm vi thiệt hại, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định không thu học phí trong thời hạn nhất định đối với trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông thuộc vùng bị thiên tai. 2. Nhà nước thực hiện cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục trong các trường hợp đột xuất quy định tại khoản 1 Điều này. Điều 9. Kinh phí thực hiện Nguồn kinh phí thực hiện tại Điều 7, Điều 8 Nghị định này được cân đối trong ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.  

    Photobucket

     QUỐC KỲ


    Hỡi những ai máu đỏ da vàng 

    Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc 

     

     

    Nhạc sĩ Văn Cao
    Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng" và bài Đống Đa: "Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa"... Và ông đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca.
    Bài hát viết xong, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe. Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết. Nguyễn Đình Thi khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh. Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.

     

     


    Quốc ca

     

     

    Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca đã được cất lên. Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong đã hát bài Tiến quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng.
    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ "Đoàn" và nốt mi ở giữa chữ "xác" làm cho bản nhạc khoẻ khoắn hơn
    Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca làm quốc ca. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam, tại điều 3 ghi rõ: "Quốc ca là bài Tiến quân ca". Năm 1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giả tham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca. Văn Cao đã luyến tiếc vì một số chữ sửa đã làm mất khí thế hùng tráng của ca khúc.
    Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam Bắc thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca. Năm 1981, Việt Nam tổ chức sẽ thay đổi quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức gì về kết quả. Tiến quân ca vẫn là quốc ca Việt Nam cho tới ngày nay.

     

     

    Bài này gồm 2 lời, nhưng Quốc ca chỉ hát lời 1.
    Lời 1
    Đoàn quân Việt Nam đi
    Chung lòng cứu quốc
    Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
    Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
    Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
    Đường vinh quang xây xác quân thù,
    Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
    Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
    Tiến mau ra sa trường,
    Tiến lên, cùng tiến lên.
    Nước non Việt Nam ta vững bền.
    Lời 2
    Đoàn quân Việt Nam đi
    Sao vàng phấp phới
    Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
    Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,

     

    Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
    Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
    Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
    Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
    Tiến mau ra sa trường,
    Tiến lên, cùng tiến lên.
    Nước non Việt Nam ta vững bền.

     


     NGHE HÁT QUỐC CA

     

    maugiaomangnon | 20 May, 2010 12:51

    HÃY ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN ĐỂ SỬ DỤNG KHO TƯ LIỆU

    http://tulieu.violet.vn/

    maugiaomangnon | 20 May, 2010 13:00
     

    Ngày đầu tiên bé đến trường mẫu giáo

     

     

    Bạn đừng làm cho nó thật sự là ngày đầu tiên con bạn tiếp xúc với môi trường mới mà hãy đưa con bạn đến những nơi bạn định chọn cho con. Nhờ thế, con bạn có thể làm quen với ngôi trường và gặp gỡ các cô giáo.

    Một khi bạn đã quyết định chọn trường nào rồi, bạn nên đến đó vài lần với con mình. Phần lớn các trường mẫu giáo đều hoan nghênh việc làm này của bạn. Thậm chí nếu con bạn còn quá nhỏ, hãy đưa con bạn đến lớp học và dạy cho con bạn những gì chúng thấy và chúng phải làm những gì. Bạn cũng để con mình quen dần với những khuôn mặt sẽ chăm sóc và chơi với chúng.

    Khoảng hai tuần trước ngày tựu trường, một số trường sẽ cho phép con bạn để con lại ở trường lúc đầu là khoảng hai tiếng và dần dần lâu hơn để con bạn quen với sự vắng mặt của bạn.

    Làm cho con yên tâm

    Bạn cần phải giải thích cho con tại sao bé lại phải đến một nơi xa lạ thế này chẳng hạn như, " mẹ phải đi làm, vì thế trong thời gian mẹ làm việc con đến trường chơi với các bạn".  Dĩ nhiên đứa con bé bỏng của bạn sẽ không hiểu rõ nghĩa câu nói của bạn nhưng bé sẽ hiểu bạn.

    Khi bạn chào con, hãy làm cho chúng yên tâm rằng bạn sẽ trở lại vào cuối ngày.

    Hãy quàng cho con khăn quàng cổ hay đồ gì đó bạn hay mặc có mùi của bạn và nhờ đặt nó lên giường khi bé ngủ.

    Trong ngày đầu tiên, giải thích cho con tại sao con phải đến trường, ôm con, chào con xong bạn nên đi thẳng. Một cuộc chia tay kéo dài sẽ chỉ làm con bạn thêm lo lắng và dễ làm cho bé khóc...

    Bạn đừng quá lo lắng - con bạn sẽ ổn thôi! Bạn nên nhớ rằng sự thử thách này sẽ khó khăn nhiều với con bạn hơn là với chính bạn.

    Phòng bệnh cho trẻ vào mùa nóng1. Say nắng:Biểu hiện: Trẻ sốt cao, da nóng khô, không có mồ hôi, mạch nhanh, buồn ngủ, lú lẫn rồi bất tỉnh.Xử lý: Đưa trẻ vào chỗ mát và cởi quần áo ngoài. Dùng nước ấm lau toàn thân và đắp khăn mát lên trán trẻ, không nên tìm mọi cách hạ nhiệt nhanh cho trẻ bằng nước lạnh, nước đá vì khi da gặp lạnh, các lỗ chân lông thu hẹp lại sẽ khó tản nhiệt hơn. Nếu trẻ vẫn còn tỉnh táo, bạn có thể cho trẻ uống một ly nước chanh đường hoặc cam tươi. Nếu thân nhiệt trẻ không hạ vẫn sốt cao, cần đưa ngay trẻ đến trung tâm y tế để tránh bị co giật.Chỉ nên cho trẻ vui đùa dưới nắng trước 9 giờ sáng để hệ xương phát triển tốt. Tránh để trẻ dưới 6 tháng tuổi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Khi bế trẻ đi chơi, nên chọn những nơi có bóng mát hoặc dùng ô che nắng. Nếu đi biển, hãy mang theo kem chống nắng và thoa cho trẻ trước khi ra nắng 30 phút.Các trò chơi vận động cũng như thời tiết nắng nóng khiến trẻ dễ đổ mồ hôi, nên phải tắm rửa thường xuyên để giữ vệ sinh thân thể. Nên tắm nước ấm vừa phải. Không tắm ngay khi vừa đi nắng về, khi đang đổ mồ hôi.2. Mụn nhọt:Vào mùa hè, trẻ rất dễ nổi mụn nhọt. Mức độ nhẹ, có thể tự khỏi. Nặng hơn, có thể gây đau nhức, sốt, biếng ăn, có thể phải chích mụn để thoát lưu mủ.Thường xuyên tắm rửa sạch sẽ và gội đầu cho trẻ. Tránh cho trẻ nghịch ngợm với đất, cát bẩn. Cho trẻ uống thật nhiều nước rau quả. Không tự ý nặn hoặc bôi thuốc lên mụn vì có thể gây nhiễm trùng nặng hơn.3. Bệnh đường hô hấp, tiêu hóa:Mùa nóng, trẻ thường bị mất nước dẫn đến tiểu ít, niêm mạc khô và sau đó sẽ bị sốt, ho... Do vậy, phụ huynh cần chú ý cho trẻ uống nhiều nước.Khi trẻ đi phân lỏng hơn 3 lần/ngày thì cần bù nước và ion bằng cách uống Oresol. Nếu không có Oresol thì thay bằng nước muối đường, nước cháo muối...Nếu bệnh không giảm trong vòng 3 ngày hoặc có kèm theo: ói mửa nhiều, sốt cao, khát nước nhiều, ăn uống kém, có máu trong phân (phân đen)... thì cần đưa đến bác sĩ ngay.Tuyệt đối không lạm dụng thuốc kháng sinh cho trẻ bởi việc uống thuốc tùy tiện sẽ gây nhiều tai biến nguy hiểm trước mắt cũng như lâu dài.Để đề phòng tiêu chảy, thức ăn nên nấu chín, hợp vệ sinh và sử dụng nước sạch.4. Viêm não và sốt xuất huyết:Đây là hai bệnh mùa hè đáng ngại nhất bởi chúng đều liên quan đến muỗi và có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn. Trẻ sốt cao 39 - 40 độ C liên tục trong 2 - 3 ngày, ngày thứ 3 - 4 có thể chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu dưới da. Nặng hơn nữa có thể nôn ra máu, đi tiêu ra máu. Cần lưu ý các dấu hiệu nặng như vật vã, chân tay lạnh, tiểu ít hoặc không tiểu phải đưa đi cấp cứu. Trong sốt xuất huyết, lúc nhiệt độ giảm cũng là lúc trẻ bị sốc, trụy tim mạch, rất nguy hiểm. Nên đưa trẻ em đi tiêm phòng viêm não Nhật Bản theo đúng quy định.Phòng tránh tai nạn cho trẻ vào mùa hè1. Ngạt nước:Nếu trẻ dưới 4 tuổi thì không nên cho tập bơi, vì cơ thể chưa phát triển thích hợp. Không được để trẻ bơi xa khu vực có chiều cao quá đầu trẻ. Cũng không nên tập thói quen mặc áo phao khi xuống nước để trẻ dạn nước, sẽ mau biết bơi hơn.2. Nhiễm trùng:Mùa hè nắng nóng dễ phát sinh dịch bệnh, dễ gây mất nước, nhiễm trùng và sốt cho trẻ. Do vậy, lưu ý trẻ luôn uống nước thường xuyên, đặc biệt là khi trẻ chơi thể thao hay đi dã ngoại. Riêng với các trò chơi trong nhà như thảy đá, banh chuyền, nhảy dây, chơi ô ăn quan, lưu ý trẻ chơi ở nơi thoáng mát, không chơi trên lề đường... Nhưng cũng không nên chơi ở những góc kẹt ẩm tối, dễ bị muỗi và côn trùng đốt, chích.Khi chơi ở công viên, chỉ nên cho trẻ chơi tại các cầu tuột, đu quay bằng nhựa để tránh bị trầy xước, nhiễm trùng, uốn ván...3. Vệ sinh ăn uống:Cơ cấu tốt nhất cho việc chọn lựa nước uống hàng ngày là 60% nước giải khát thông thường, 20% sữa các loại và 20% nước trái cây tươi các loại.Nhớ cắt móng tay của trẻ thật ngắn và cho trẻ rửa tay trước khi ăn uống để tránh nguy cơ bị tiêu chảy. Đừng cho trẻ uống trà đá, nước mía bán dạo trong công viên, lề đường. Chỉ nên dùng nước trắng đun sôi để nguội hoặc đã tiệt trùng, tránh dùng các loại nước giải khát có đường hay nước đóng chai có gas. 

    maugiaomangnon | 20 May, 2010 13:17

    maugiaomangnon | 20 May, 2010 13:31
     

     
     
     CLIP HỘI DIỄN VĂN NGHỆ 19-5 CỦA MẪU GIÁO MĂNG NON

     

      Chào mừng 120 năm ngày sinh Bác Hồ, tối 18-5-2010 tai khuôn viên UBND xã Tam Ngọc, trường Mãu giáo Mang non đã tổ chức Hội diễn văn nghệ. Về dự có đầy đủ các đồng chí lãnh đạo ddiwj phương, các ban ngành đoàn thể và trên 300 nhân dân, phụ huynh.Gần 20 tiết mục của các cô giáo và các lớp biểu diễn.Đây là hoạt động được đông đảo nhân dân, phụ huynh và các cấp lãnh đạo hoan nghênh.

     

     

    maugiaomangnon | 20 May, 2010 22:59
    Chung
    LỄ TỔNG KẾT-PHÁT THƯỞNG NĂM HỌC 2009-2010
     
     
     
     

    Sealed

    maugiaomangnon | 21 August, 2010 19:34
    Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

    CHỈ THỊ

    Về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,

    giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2010 - 2011

     

    Căn cứ các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, các văn bản quy định và hướng dẫn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ;

    Căn cứ tình hình thực tế của ngành Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chủ đề năm học 2010-2011 "Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục".

    Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị toàn ngành tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

    1. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý giáo dục

    1.1. Tham gia góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng và chủ động xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp về lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

    1.2. Tiếp tục thực hiện phân cấp quản lý về giáo dục; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục. Tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ, trong đó tập trung thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo.  

    1.3. Thực hiện nghiêm túc quy định về công khai đối với các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

    1.4. Hoàn thành việc chuyển đổi loại hình trường mầm non, phổ thông theo quy định của Luật và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    1.5. Đổi mới công tác thông tin tuyên truyền để cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình của Ngành cho nhân dân; nắm bắt tổng hợp thông tin từ các kênh khác nhau để giải quyết kịp thời các vấn đề của Ngành.   

    1.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Tích cực áp dụng hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, họp, trao đổi công tác qua mạng Internet. Tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong ngành.

    1.7. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, trọng tâm là đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục; thống nhất bộ tiêu chí đánh giá nhà trường đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kiểm định chất lượng, xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực, trường học đạt chuẩn quốc gia, thanh tra toàn diện nhà trường.

    1.8. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra. Tăng cường các hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành ở các cấp học, ngành học. Tổ chức thanh tra các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập và cơ sở giáo dục có đầu tư nước ngoài.

    1.9. Đổi mới việc đánh giá thi đua các lĩnh vực công tác của ngành theo hướng các Cục, Vụ chức năng của Bộ theo dõi, đánh giá các lĩnh vực công tác phụ trách và là cơ sở quan trọng để các vùng bình xét thi đua. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2008/TT-BGDĐT ngày 22/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác thi đua, khen thưởng trong ngành. Tổ chức Đại hội thi đua yêu nước của ngành vào tháng 10/2010. Phổ biến rộng rãi cuốn sách "Gương mặt giáo dục Việt Nam", tuyên truyền các tấm gương tiêu biểu, điển hình trong đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh.

     1.10. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác pháp chế trong đó tập trung soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật về giáo dục, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục.

    2. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục

    2.1. Các nhiệm vụ chung của các cấp học

    2.1.1. Tiếp tục triển khai có hiệu quả, sáng tạo cuộc vận động  "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" theo Chỉ thị 06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị gắn với đặc thù của ngành là thực hiện cuộc vận động "Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Thực hiện nghiêm túc quy định về đạo đức nhà giáo (Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008).

    2.1.2. Tổ chức tổng kết 4 năm thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thông qua cuộc vận động "Hai không" của ngành. Tăng cường các giải pháp để khắc phục hiện tượng học sinh ngồi sai lớp, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và học sinh bỏ học, tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi. Tổ chức nghiêm túc, an toàn kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi học sinh giỏi quốc gia năm 2011.

    2.1.3. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đối với các trường phổ thông và mầm non.

    - Các đơn vị trường học tổ chức tốt các ngày kỷ niệm lớn của đất nước; tăng cường giáo dục đạo đức, lý tưởng, rèn luyện kỹ năng sống, ứng xử cho học sinh để chuẩn bị cho việc học tập, lao động ở giai đoạn tiếp theo. Rút kinh nghiệm và tổ chức tốt phần "hội" trong lễ khai giảng, tổ chức "Lễ tri ân và trưởng thành" cho học sinh lớp 12, lễ ra trường và trưởng thành của học sinh lớp 5, lớp 9. Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian, các hoạt động kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

    - Tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất và cảnh quan các trường học, phấn đấu 100% trường học có công trình vệ sinh đạt yêu cầu. Phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, các đoàn thể ở địa phương triển khai nội dung "đi học an toàn". Tiếp tục triển khai hỗ trợ chăm sóc các di tích lịch sử, văn hóa; các bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng.

    - Xây dựng thư viện câu hỏi kiểm tra, bài tập các môn học để giáo viên, học sinh tham khảo, sử dụng trong dạy và học, tự kiểm tra, đánh giá. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy và học. Triển khai tài liệu hướng dẫn giáo dục kĩ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục. Phổ cập kỹ năng bơi an toàn và chống đuối nước cho học sinh. Ngăn chặn các tác động tiêu cực của Internet, đặc biệt là trò chơi điện tử trực tuyến (game online) đối với học sinh. Có các giải pháp phối hợp tích cực ngăn chặn hiện tượng học sinh đánh nhau. Tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy và các tệ nạn xã hội trong nhà trường.

    - Tăng cường công tác y tế trường học nhằm đảm bảo chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường. Tổ chức các hoạt động thể thao cho học sinh phổ thông và học sinh khuyết tật. Chuẩn bị tốt cho việc tổ chức Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VIII năm 2012. 

    2.1.4. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn về công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Triển khai công tác đánh giá chất lượng giáo dục các nhà trường.

    2.1.5. Triển khai Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020. Tổ chức đánh giá kết quả 10 năm công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia.

    2.1.6. Nghiên cứu bổ sung các chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh ở vùng dân tộc; củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú. Tiếp tục các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở mầm non, tiểu học; bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên vùng dân tộc.

    2.2. Giáo dục mầm non

    - Triển khai thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ).

    - Tập trung hoàn thiện mạng lưới trường, lớp mầm non; tiếp tục triển khai Chương trình giáo dục mầm non mới; tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục trẻ, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

    - Tăng cường quản lý các cơ sở giáo dục mầm non tư thục; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, công tác xã hội hoá giáo dục.

     

     

    2.3. Giáo dục phổ thông

    - Tiếp tục triển khai dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, Giáo dục công dân. Tập huấn và thực hành thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo của học sinh. Bổ sung các tài liệu hướng dẫn đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới kiểm tra, đánh giá.

    - Tổ chức tổng kết 10 năm củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học ở những nơi có điều kiện.

    - Tiếp tục điều chỉnh chương trình, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục các môn Giáo dục công dân, Thủ công - Kỹ thuật, Mỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục thể thao... Ban hành các văn bản quy định về biên soạn, chỉnh sửa, thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa. Soạn thảo và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa áp dụng sau năm 2015.

    - Triển khai các bước chuẩn bị cho Việt Nam tham gia chương trình quốc tế đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông (PISA) vào năm 2012. Triển khai thực hiện Đề án phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010-2020.

    2.4. Giáo dục thường xuyên

    - Nâng cao nhận thức cho mọi người về "học tập suốt đời" và xây dựng xã hội học tập; tiếp tục củng cố và phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng; tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.

    - Tiếp tục đa dạng hoá nội dung, chương trình giáo dục, tài liệu hướng dẫn cho học viên, giáo viên; tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học chương trình giáo dục thường xuyên; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên; tham gia đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

    - Tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010; xây dựng Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2011-2020" và Đề án "Xoá mù chữ giai đoạn 2011-2020".

    2.5. Giáo dục chuyên nghiệp

    - Tiếp tục thực hiện việc nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp. Đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng giáo dục, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, các hình thức đào tạo, các hệ đào tạo và loại hình trường trung cấp chuyên nghiệp. Tích cực thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở.

              - Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, các trường TCCN tiếp tục thực hiện việc xây dựng, công bố chuẩn đầu ra các ngành đào tạo và xây dựng lộ trình để thực hiện chuẩn đầu ra. Tổ chức đánh giá 10 năm phát triển trung cấp chuyên nghiệp.

    3. Chăm lo, đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

    3.1. Thực hiện Điều lệ Hội thi giáo viên dạy giỏi trong giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Tổ chức xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú lần thứ XI và tổ chức lễ tuyên dương nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2010.

    3.2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

    3.3. Triển khai thực hiện đại trà chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, tiểu học, trung học (trung học cơ sở và trung học phổ thông), chuẩn hiệu trưởng trường trung học. 

    3.4. Tổ chức có hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, chú trọng bồi dưỡng kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm lớp. Hoàn thành bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo đề án liên kết Việt Nam - Singapore, tiến hành các hoạt động tư vấn, giám sát để phát huy kết quả của việc bồi dưỡng.

    3.5. Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 01/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010". Triển khai công tác quy hoạch cán bộ trong toàn ngành.  Xây dựng quy hoạch đội ngũ giáo viên mầm non và phổ thông giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Có chính sách và kế hoạch để phát triển giảng viên sư phạm, giáo viên các môn học còn thiếu và các môn đặc thù.

    4. Tiếp tục đổi mới công tác tài chính giáo dục

    4.1. Triển khai Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ, các địa phương xây dựng và áp dụng mức học phí mới từ năm học 2010-2011. Chấn chỉnh công tác quản lý thu, chi để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục, chấm dứt tình trạng lạm thu dưới mọi hình thức trong các cơ sở giáo dục. Các Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối thực hiện tổng hợp kế hoạch và ngân sách giáo dục và đào tạo ở địa phương để báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan tổng hợp của nhà nước.

    4.2. Tiếp tục thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Xử lý kịp thời những sai phạm được phát hiện qua công tác kiểm tra, thanh tra.

    4.3. Các Sở Giáo dục và Đào tạo chủ động phối hợp với cơ quan tài chính để đề xuất định mức chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho mỗi cấp học, trình độ đào tạo theo đúng quy định của Thủ tướng Chính phủ và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, ưu tiên ngân sách để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chống mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đảm bảo chi cho giáo dục ở các xã miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    4.4. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá giáo dục, tăng cường huy động các nguồn lực phát triển giáo dục.

    5. Phát triển mạng lưới trường, lớp học và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đồ chơi trẻ em

    5.1. Đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012. Tiếp tục triển khai Đề án phát triển giáo dục ở 62 huyện nghèo.

    5.2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và chế tài liên quan đến mua sắm, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học, đồ chơi trẻ em; đẩy mạnh phong trào tự làm và sử dụng thiết bị dạy học, đồ chơi trẻ em.

    5.3. Tiếp tục đầu tư, xây dựng các trường mầm non, tiểu học, trung học cở sởtrung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Đầu tư xây dựng, hiện đại hóa hệ thống trường trung học phổ thông chuyên. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho các trường trung cấp chuyên nghiệp, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp.

    5.4. Chỉ đạo triển khai có hiệu quả, tăng cường kiểm tra, giám sát việc đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở địa phương.

    Để tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu:

    Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo căn cứ tình hình thực tiễn địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường và cơ sở giáo dục ở địa phương thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011; tích cực tham mưu với Tỉnh/ Thành uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh/ thành phố có Nghị quyết về công tác giáo dục và Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010-2011 ở địa phương; chủ động phát huy sự cộng tác, phối hợp giúp đỡ của các ban, ngành, đoàn thể để ngành Giáo dục có điều kiện thuận lợi thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.

    Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp quản lý giáo dục địa phương thực hiện nhiệm vụ năm học; kịp thời báo cáo, phản ánh tình hình, đề xuất các giải pháp chỉ đạo để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện.

    Chỉ thị này được phổ biến tới tất cả cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp quản lý giáo dục, nhà giáo ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp để quán triệt và thực hiện.

     

    maugiaomangnon | 20 September, 2010 15:08

    https://docs.google.com/document/pub?id=1520YGrLXiwLurwtDssG66XMldPojr3NgYmbzl42AGgE
    maugiaomangnon | 20 September, 2010 15:23

     

     KẾ HOẠCH CHUYÊN MÔN TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2010-2011

    TRƯỜNG MẪU GIÁO MĂNG NON TP TAM KỲ

      kích vào link https://docs.google.com/document/pub?id=1520YGrLXiwLurwtDssG66XMldPojr3NgYmbzl42AGgE

1 2 3 4  Sau»